I. PHẦN TRẮC NGHIỆM (3 điểm)
I.1. Đọc văn bản 1 và trả lời các câu hỏi 1 – 5
VĂN BẢN 1
NHẠC SĨ VĂN CAO VÀ TIẾN QUÂN CA
Sinh thời, nhạc sĩ Văn Cao thường nói: “Tôi viết Tiến quân ca là theo yêu cầu của Cách mạng, cảm xúc của đội quân Việt Minh vừa thành lập. Khi được Nhà nước chọn làm Quốc ca thì nó không còn là của tôi nữa mà là của dân tộc, tôi chỉ là người chấp bút”.
Cuối đời Văn Cao kể, đây là một đêm mùa đông giá buốt của Hà Nội 1944. Buổi chiều, ông đi dọc đường phố qua Hàng Cỏ (nay là Hà Nội), qua Hàng Bông rồi ra Hồ Bảy Mẫu. Ông vừa đi vừa ngẫm nghĩ tìm ý cho bản hành khúc mà tổ chức vừa giao trách nhiệm. Hình thức dập vào mắt ông là những tốp người đói khổ trông thảm hại trên vỉa hè Hà Nội, là ánh mắt của bé gái chừng ba tuổi, là ngọn lửa tim sẵn sàng bùng thắp một nơi nào. Đêm ấy, về căn gác nhỏ số 171 phố Mong-garen (nay là 45 Nguyễn Thượng Hiền), nhạc sĩ Văn Cao đã viết nốt nhạc đầu tiên cho bản hành khúc. Cùng với một người bạn, bản hành khúc cho một đội ba mươi hoàn chỉnh. Do đang trong thời kì hoạt động bí mật, Tiến quân ca được ghi tên tác giả bằng mật danh Anh Thơ.
Vì tác phẩm được viết tại nhà người bạn nhạc sĩ Văn Cao ở nhờ cho nên nhạc sĩ Văn Cao ghép thêm tên danh của bạn như một đóng góp giả là Anh Dũng. Lúc đó, nó có một cái nhan đề chung giản dị là Thăng Long. Tháng 11-1944, khi tụ họp Văn Cao viết bài Tiến quân ca lên đĩa trong trang văn nghệ đầu tiên của Báo Độc Lập. Một tháng sau khi phát hành, Văn Cao đi qua phố Mai Hắc Đế vào ban đêm, ông đã nghe vang ra từ một căn gác tiếng đàn măng-đô-lin đang chơi bài Tiến quân ca.
Tại Quốc dân Đại hội họp ở Tân Trào giữa tháng 8-1945, các đại biểu nhất trí chọn Tiến quân ca là bài hát chính thức của Mặt trận Việt Minh. Chiều 17-8-1945, tại Quảng trường Nhà hát Lớn, Tiến quân ca vang lên tiếng đàn ác-mô-ni-um của nhạc sĩ Nguyễn Hữu Hiếu. Sáng 19-8-1945, cùng tại Quảng trường Nhà hát Lớn, Tiến quân ca vang lên bởi dàn đồng ca thiếu niên. Ngày 2-9-1945, Tiến quân ca đã được chọn làm Quốc ca nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và vang lên trong giờ phút lịch sử Độc lập. Và đến tháng 1-1946, tại kỳ họp đầu tiên của Quốc hội khóa I, Tiến quân ca chính thức trở thành Quốc ca Việt Nam sau khi được các nhạc sĩ Đinh Ngọc Liên và Nguyễn Hữu Hiếu góp ý về nhịp mở đầu (không để mở đầu bằng một tiếng cồng mà vào ngay nốt móc kép cho nhanh và khí thế hơn) và thơ Tố Hữu góp ý đổi chữ “sao vàng phấp phới” thành “cờ bay phấp phới”.
Lời ai từng được hỏi Bác Hồ cùng Đỗ Nhuận, Thái Nguyên mà dùng lời “sao vàng”. Và lần đầu tiên Tiến quân ca vang lên cùng “Mác-xây-ê” (Quốc ca Pháp) ở Việt Nam là tháng 5-1946 tại Đà Lạt, trong ngày khai mạc Hội nghị giữa hai bên về vấn đề độc lập của Việt Nam. Sau đó, vang lên ở Pháp tại Hội nghị Phông-ten-nơ-blô vào dịp Chủ tịch Hồ Chí Minh đi thăm Pháp mùa thu năm 1946.
Từ khi chính thức được nhận là Quốc ca Việt Nam, Tiến quân ca đã thấm vào từng con người Việt Nam để cùng biết đau như da thịt, biết cháy như máu suốt hai cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc.
Đến nay, Tiến quân ca đã được 71 tuổi. 71 tuổi ấy mãi mãi thì Tiến quân ca vẫn vạm vỡ một sức sống thanh xuân như sức sống của dân tộc.
(Nguyễn Thụy Kha, “Nhạc sĩ Văn Cao và Tiến quân ca”, Báo Nhân Dân Online, 17/8/2015)
Nội dung văn bản được tổ chức theo trình tự nào?- A. Trình tự không gian
- B. Không theo trình tự cố định
- C. Trình tự thời gian
- D. Kết hợp trình tự thời gian và trình tự không gian
- A. Thời điểm Văn Cao sáng tác Tiến quân ca
- B. Nguyên nhân Văn Cao phải dùng mật danh để ghi tên tác giả Tiến quân ca
- C. Nguồn cảm hứng để Văn Cao sáng tác Tiến quân ca
- D. Hoàn cảnh ra đời Tiến quân ca
- A. Tháng 1 năm 1946
- B. Tháng 9 năm 1945
- C. Tháng 8 năm 1945
- D. Tháng 5 năm 1946
- A. Tố Hữu
- B. Đinh Ngọc Liên và Nguyễn Hữu Hiếu
- C. Anh Dũng
- D. Cả A và B
- A. Cao lớn, trẻ trung
- B. Mạnh mẽ, dồi dào
- C. Cao to, khoẻ mạnh
- D. Cao lớn, hăng hái
I.2. Đọc văn bản 2 và trả lời các câu hỏi 6 – 10
VĂN BẢN 2
Bản năng mạnh mẽ nhất của con người là học lấy những kỹ năng sống nhằm tự tồn tại. Vừa lọt lòng mẹ, chúng ta khóc oe oe đòi sữa, vì “con khóc mẹ mới cho bú”. Không có ai dạy cả. Rồi ba tháng biết lẫy, bảy tháng biết bò, chín tháng biết đứng lẫy… Rồi nhảy chân đầu tiên, ngã đầu tiên… Cha mẹ dựng quanh vỏ tay cổ vũ, khen ngợi. Nhưng chính chúng ta, đứa bé nhỏ, mong manh như vậy, khi mới vài tháng tuổi đã tự mình làm nên những kỳ tích. Hãy nhớ lại lúc bé thơ. Khi nào cho bạn cảm giác có ích chính thức là? Đó là khi mẹ tin rằng bạn có thể tự ăn vào miệng mình. Bà mẹ không để cho ta ăn, tức là ta biết đi, muốn tự đi một mình và quan trọng nhất là khiến mẹ tin rằng ta có thể tự đi một mình, biết vững vào ghế, biết tự đứng dậy được khi vấp ngã. Có bao giờ bạn tự hỏi: tại sao cha mẹ có thể tay ra cho bạn đứng chững khi bạn mới mười tháng, mà vẫn xúc cơm cho bạn khi đã mười tám tuổi? Nếu mẹ có thể xúc cơm cho bạn thì có gì là nếu bạn không yên tâm để bạn làm hết mọi thứ?
Nếu chúng ta không chứng tỏ được rằng mình có thể tự làm, người khác sẽ không tin rằng chúng ta không thể tự làm. Nếu bạn không tự làm được điều dễ dàng, có sao nói phải tin rằng bạn có đủ trách nhiệm và nhận thức để làm điều khó hơn? Trang từ nhỏ: “Giá rừng đi trước một bước mới ươm được mầm nước. Nhưng chúng không mong cầu được sống trong lòng”. Chúng ta có giống được những con gà rừng không? Nếu chúng ta ưa thích thói quen bám víu chuối vào chiếc lồng. Rồi sau những song sắt đó, chúng ta đòi tự do? Tự xúc cơm, xếp quần áo, chải tóc, dọn phòng, chọn nghề, tìm việc, kiếm sống, chọn chồng chọn vợ, chọn tương lai… Chúng ta sẽ quen với việc được sắp sẵn. Chúng ta làm việc đã được người khác lên kế hoạch hơn là tự mình vạch ra. Chúng ta chuộng thói quen hơn sáng tạo. Chúng ta chỉ vui khi có người tâng bốc, chỉ hết buồn nếu có người an ủi vuốt ve. Chúng ta thậm chí không muốn tự phán xét đúng sai khi có người làm thay. Chúng ta không thể làm chủ đời mình. Cứ như vậy, chúng ta đánh mất bản năng của gà rừng và biến thành con gà trong lồng lúc nào không biết nữa. Thậm chí, một con chim trong rất nhiều lồng.
(Phạm Lữ Ân, “Hãy kiên nhẫn và tự do, nhưng chớ gì rừng”, NXB Hội Nhà văn, Hà Nội, 2012, tr.174–175)
Câu 6: Văn bản trên bàn luận về vấn đề gì?- A. Phải biết đi xa để tìm tự do, sự sống
- B. Cần thoát khỏi mọi xếp đặt, ràng buộc
- C. Con người cần biết sống tự lập, tự chủ
- D. Kỹ năng sống nhằm tự tồn tại của con người
- A. Giải thích, chứng minh, so sánh.
- B. Giải thích, phân tích, chứng minh.
- C. Giải thích, chứng minh, bác bỏ.
- D. Giải thích, phân tích, bác bỏ.
- A. Khi ba mẹ cho rằng con cái cần tự lập
- B. Khi con cái khiến ba mẹ tin rằng mình có thể tự lập
- C. Khi ba mẹ không làm thay cho con cái được nữa
- D. Khi con cái đã lớn
- A. Từ chối sự hỗ trợ, giúp đỡ của người khác
- B. Tự phân biệt đúng sai
- C. Tự lên kế hoạch cho các hoạt động
- D. Chứng tỏ được rằng chúng ta có thể tự làm
- A. Đánh mất tính sáng tạo
- B. Cảm xúc cũng lệ thuộc vào người khác
- C. Tạo thói quen ưa được tâng bốc
- D. Không biết an ủi, vuốt ve người khác
I.3. Đọc văn bản 3 và trả lời các câu hỏi 11 – 15
VĂN BẢN 3
MIỀN CỎ THƠM
Mùa xuân có thể định nghĩa là mùa mà toàn bộ cây nở đầy thanh hoa. Những ngọn đồi phía tây nam Huế bừng lên trong hương hoa cỏ, khiến người ta không thể ngồi yên cúi mặt lên trang sách. Hương cỏ tràn vào thành phố, như gắn như kéo tôi trở về những rặng cỏ đầu đáy trên những sườn đồi, cánh cửa của vườn địa đàng mở ra, hoặc những ngọn đồi thấp dưới những gốc đào hoa, với mùi hương ngọt ngào như mùi tóc bay trong những chiều gió. Cỏ mọc ven những con đường trong thành phố, trên lô thửa thảm những chòm cây dại, như cây hoa ngũ sắc sặc sỡ dọc đường tàu của tôi. Bay theo những bướm cánh trắng của tôi là những con bướm, những cánh chuồn nhẹ nhàng nâng lên từng tầng không gian, ghé cỏ này, vờn cỏ kia, trong một thành phố nào cũng xưa, vàng vọt đi qua nhạc của cung đình và hoang phế. Đã nhiều năm, tôi chọn khoảng rừng lũ chuồn chuồn, bươm bướm của tôi đã rời thành phố này mà đi đâu biết tìm, các cánh chuồn thân mềm của tôi đã rời thành phố này để tìm một không gian khác yên tĩnh hơn, ít tiếng động làm choáng đầu óc hơn.
Một hôm nhân có việc đi ra ngoại ô vào ban đêm, tôi gặp những đàn đom đóm mịt mù như một đám bụi sao bay ra khỏi khu vườn đằng sau thành phố. Tôi lại nhớ ra rằng từ lâu, ở Huế người ta không còn thấy bóng con đom đóm, không còn thấy những bầy rẻ cỏ đan đầy những vòng bụi lửa đom đóm để cỏ bát ngát trời. Và chính ra những cánh bướm, cánh chuồn chuồn thân mềm của tôi đã rời bỏ những bụi cây hoang dại ven đường mà đi về nơi khu vườn địa đàng của chúng, trên những đồi cỏ kia, để lại tôi đứng một mình làm thằng bé lang thang cỏ nhớ thế này. Ôi! Tôi muốn làm Liệt Tử cưỡi gió mà đi khắp nơi trên thành phố phồn hoa của tôi, thành phố nắm giữ bao xanh nước biếc, trông nhìn hơn vô tư thênh thang hương cỏ.
[…] Mùa xuân, tự nhiên tôi mắc phải một cơn bệnh lạ đến ngơ ngẩn trước những đồi cỏ gần thung Vua. Ở đó có thể nằm ngửa mặt trên cỏ, ngước mắt nhìn chùm hoa lê nở trắng muốt trên cao. Tôi đã tìm đến sống ở nhiều đô thị bắc nam; ở đó tôi có thể tìm thấy những cái hiện đại, có thể tìm thấy những tiện nghi; nhưng tôi thiếu mất cái hồn của thiên nhiên.
(Hoàng Phủ Ngọc Tường, “Miền cỏ thơm”, Tạp chí Sông Hương, số 179–180, 2004)
Câu 11: Nội dung văn bản Miền cỏ thơm của Hoàng Phủ Ngọc Tường được triển khai theo trình tự nào?- A. Theo trình tự không gian
- B. Theo trình tự thời gian
- C. Theo mạch cảm xúc của nhân vật “tôi”
- D. Cả A và B
- A. Thị giác, xúc giác
- B. Thị giác, khứu giác
- C. Thị giác, thính giác
- D. Thị giác, vị giác
- A. Để được bay trên những chòm cây dại
- B. Để tìm đến một không gian khác yên tĩnh hơn
- C. Để tìm đến một không gian có nguồn sống dồi dào hơn
- D. Để tránh gặp con người
- A. Vì ở đó thiếu cỏ thơm
- B. Vì ở đó đông đúc và ồn ào
- C. Vì ở đó thiếu thiên nhiên
- D. Vì ở đó thiếu mọi cái cần cho cuộc sống
- A. Sùng bái, tôn thờ
- B. Kính sợ, phục tùng
- C. Nhớ tiếc, xót xa
- D. Nâng niu, trân trọng
Câu 16. (3 điểm) Viết đoạn văn trình bày cảm nhận của anh/chị về đoạn thơ sau:
Ta với mình, mình với ta
Lòng ta sau trước mặn mà đinh ninh
Mình đi, mình lại nhớ mình
Nguồn bao nhiêu nước, nghĩa tình bấy nhiêu...
(Tố Hữu, Việt Bắc, SGK Ngữ văn 12, Tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, 2020, tr.110)
Đáp án: (16)
Câu 17. (4 điểm) Viết bài văn trình bày suy nghĩ của anh/chị về ý kiến sau:
Mọi tư tưởng và hành động của con người đều dựa trên yêu thương hoặc sợ hãi.
(Neale Donald Walsch, Đối thoại với Thượng đế, Nguyễn Trung Kỳ dịch, NXB Tri thức, 2021, tr.39)
Đáp án: (17)
