Chọn một từ/ cụm từ mà nghĩa của nó KHÔNG cùng nhóm với các từ/ cụm từ còn lại.
Câu 1
- A. Ca tụng
- B. Tán dương
- C. Cổ vũ
- D. Ngợi ca
- A. Tốt bụng
- B. Tự tin
- C. Tử tế
- D. Nhân hậu
- A. Hi hả
- B. Ri rỉ
- C. Rả rích
- D. Tí tách
- A. Đau xót
- B. Đau khổ
- C. Đau đớn
- D. Đau đáu
- A. Bình minh
- B. Ban mai
- C. Trung thu
- D. Hoàng hôn
Chọn cặp từ/ cụm từ THÍCH HỢP NHẤT điền vào chỗ trống.
Câu 6Chủ nghĩa nhân đạo trong văn học trung đại vừa bắt nguồn từ ___________ của người Việt Nam vừa tiếp thu ___________ tích cực vốn có của Phật giáo, Nho giáo, Đạo giáo.
- A. phong tục nhân văn/ tư tưởng nhân văn
- B. truyền thống nhân văn/ tư tưởng nhân văn
- C. tư tưởng nhân văn/ quan niệm nhân văn
- D. quan niệm nhân văn/ truyền thống nhân văn
- A. tạo tác/ biểu diễn
- B. thiết kế/ nói về
- C. kiến tạo/ kể đến
- D. xây dựng/ kể về
- A. thân kiếp/ tầm
- B. số mệnh/ năng khiếu
- C. số phận/ tài
- D. thân phận/ tài hoa
- A. đặc biệt/ điêu khắc
- B. đặc sắc/ miêu tả
- C. sắc nét/ kể chuyện
- D. sắc sảo/ độc thoại nội tâm
- A. bao la/ xa xôi
- B. hùng vĩ/ lớn lao
- C. nên thơ/ lãng mạn
- D. xa tít/ thiểu số
Xác định một từ/ cụm từ SAI về ngữ pháp hoặc ngữ nghĩa, logic, phong cách.
Câu 11Chúng tôi đã lựa chọn được cách thức tối ưu nhất để triển khai dự án này.
- A. triển khai
- B. lựa chọn
- C. tối ưu nhất
- D. cách thức
- A. ý kiến
- B. rất nhiều đồng tình
- C. trong cuộc họp
- D. trưởng ban chỉ đạo
- A. cây sâm
- B. cổ thụ
- C. lắng nghe
- D. cảm xúc
- A. vui vẻ
- B. Chúc mừng
- C. các bạn
- D. hạnh phúc
- A. một cá nhân
- B. câu chuyện đất nước
- C. không là
- D. rộng hơn
Đọc đoạn trích dưới đây và trả lời các câu hỏi từ 16 đến 20.
“Hôm ấy Tôn Càn theo lệnh Quan Công vào thành ra mắt Trương Phi. Thi lễ xong, nói chuyện Huyền Đức đã bỏ Viên Thiệu sang Nhữ Nam, Vân Trường thì ở Hứa Đô, vừa đưa hai phu nhân đến đây. Rồi mời Trương Phi ra đón.
Phi nghe xong, chẳng nói chẳng rằng, lập tức mặc áo giáp, vác mâu lên ngựa, dẫn một nghìn quân, đi tắt ra cửa bắc. Tôn Càn thấy lạ, nhưng không dám hỏi cũng phải theo ra thành.
Quan Công trông thấy Trương Phi ra, mừng rỡ vô cùng, giao long đao cho Châu Thương cầm, tế ngựa lại đón. Trương Phi mắt trợn tròn xoe, râu hùm vểnh ngược, hò hét như sấm, múa xà mâu chạy lại đâm Quan Công.
Quan Công giật mình, vội tránh mũi mâu, hỏi:
Hiền đệ cớ sao như thế, há quên nghĩa vườn đào ru?
Trương Phi hầm hầm quát:
Mày đã bội nghĩa, còn mặt nào đến gặp tao nữa?
Quan Công nói:
Ta thế nào là bội nghĩa?
Trương Phi nói:
Mày bỏ anh, hàng Tào Tháo, được phong hầu tứ tước, nay lại đến đây đánh lừa tao! Phen này tao quyết liều sống chết với mày!”
(La Quán Trung, Hồi trống Cổ Thành, theo Ngữ văn 10, tập 2, NXB GDVN, 2019)
Câu 16. Phương thức biểu đạt chính của đoạn trích là gì?
- A. Sinh hoạt
- B. Nghệ thuật
- C. Tự sự
- D. Nghị luận
- A. Mừng rỡ
- B. Giật mình
- C. Ngạc nhiên
- D. Kinh hãi
- A. “hò hét như sấm”
- B. “múa xà mâu chạy lại đâm Quan Công”
- C. “mặc áo giáp, vác mâu lên ngựa”
- D. "giao long đao cho Châu Thương"
- A. “Hiền đệ cớ sao như thế, há quên nghĩa vườn đào ru?”
- B. “Mày đã bội nghĩa, còn mặt nào đến gặp tao nữa?”
- C. “Mày bỏ anh, hàng Tào Tháo, được phong hầu tứ tước, nay lại đến đây đánh lừa tao!”
- D. “Phen này tao quyết liều sống chết với mày!”
- A. Nóng vội
- B. Hồ đồ
- C. Thẳng thắn
- D. Nóng nảy
Đọc đoạn trích dưới đây và trả lời các câu hỏi từ 21 đến 25.
Cỏ
Cô vốn thấp
thấp nhất các loài cây
nên chân thường dẫm đạp
Rồi tới ngày chân tự hỏi
cỏ là gì khi nhìn đỉnh núi
nơi chân chưa từng (và có thể
chẳng bao giờ chạm tới)
cỏ đã xanh ngạo nghễ ngàn đời
Và chân nhớ tới cuộc tiễn đưa
người thân, sơ, bạn bè, và cả những sơ sài về đất
theo cách thông thường hay trang trọng nhất
cỏ lại lặng lẽ xanh đắp ấm những kiếp người
Vậy cỏ là gì
chân là gì
ai dẫm đạp, ai cưu mang
Ai?
(Hữu Việt, theo vanvn.vn)
Câu 21. Bài thơ được viết theo thể thơ nào?
- A. Hỗn hợp
- B. Tự do
- C. Lục bát
- D. Song thất lục bát
- A. cỏ lặng lẽ xanh đắp ấm những kiếp người
- B. cỏ xanh ngạo nghễ ngàn đời
- C. chân thường dẫm đạp
- D. cỏ thấp nhất các loài cây
- A. “cỏ đã xanh ngạo nghễ ngàn đời”
- B. "theo cách thông thường hay trang trọng nhất”
- C. “nên chân thường dẫm đạp”
- D. “cỏ lại lặng lẽ xanh đắp ấm những kiếp người”
Biện pháp tu từ nào được sử dụng trong đoạn thơ dưới đây?
“Vậy cỏ là gì
chân là gì
ai dẫm đạp, ai cưu mang
Ai?”
- A. Nghịch ngữ
- B. Câu hỏi tu từ
- C. Liệt kê
- D. Nói mia
Nêu tác dụng của phép chêm xen (in đậm) trong đoạn thơ:
“Rồi tới ngày chân tự hỏi
cỏ là gì khi nhìn đỉnh núi
nơi chân chưa từng (và có thể
chẳng bao giờ chạm tới)
cỏ đã xanh ngạo nghễ ngàn đời”
- A. Thể hiện ý nghĩ của “chân” về “cỏ”
- B. Thể hiện sự cao ngạo của “cỏ”
- C. Tô đậm nhận thức về sự thua kém của “chân” so với “cỏ”
- D. Thể hiện sự cao ngạo của “chân”
“Cái khổ làm héo một phần lớn những tính tình tươi đẹp của người ta. Tiếng đau khổ vang dội lên mạnh mẽ, chao ôi! Chao ôi! Nghệ thuật không cần phải là ánh trăng lừa dối, không nên là ánh trăng lừa dối, nghệ thuật có thể chỉ là tiếng đau khổ kia, thoát ra từ những kiếp lầm than, vang dội lên mạnh mẽ trong lòng Điền. Điền chẳng cần đi đâu cả. Điền chẳng cần trốn tránh. Điền cứ đứng trong lao khổ, mở hồn ra đón lấy, tất cả những vang động của đời…”
(Nam Cao, *Trăng sáng*, theo *Nam Cao toàn tập*, tập 2, NXB Văn học, 1999)
Hình ảnh “ánh trăng lừa dối” (in đậm) ẩn dụ cho ý nghĩa nào sau đây?
- A. Cái đẹp gần gũi, hiện hữu
- B. Cái đẹp huyễn hoặc, xa vời, thiếu thực tế
- C. Cái đẹp trừu tượng
- D. Cái đẹp nên thơ, trữ tình
“Nam Bộ
Chín nhánh Mê Kông phù sa nổi váng…
Ruộng bãi
Mê Kông trồng không hết lúa
Bến nước Mê Kông tôm cá ngập thuyền
Sầu riêng thơm dậy đất Thủ Biên
Suối mát dội trong lòng dừa trĩu quả.
Mê Kông quặn đẻ…
Chín nhánh sông vàng”
(Nguyên Hồng, *Cửu Long giang ta ơi*, theo *Văn bản đọc hiểu Ngữ văn 10*, NXB ĐHQGHN, 2022)
Nội dung nào dưới đây không được thể hiện trong đoạn thơ trên?
- A. Đoạn thơ gợi tả sự giàu có, trù phú của mảnh đất Nam Bộ.
- B. Đoạn thơ sử dụng các biện pháp tu từ: liệt kê, phép điệp, nhân hoá,...
- C. Đoạn thơ thể hiện khao khát được cống hiến, góp sức dựng xây quê hương đất nước.
- D. Đoạn thơ bộc lộ niềm tự hào của nhân vật trữ tình về mảnh đất Nam Bộ.
“Nhưng lạ nhất là thói ăn cay, đến nỗi chính tôi cũng không hiểu sao mình lại ăn cay “tài” đến như vậy. Người Huế có đủ cung bậc ngôn ngữ để diễn tả vị cay, bao gồm hết mọi giác quan, càng nói càng “sướng miệng”: cay phỏng miệng, cay xé lưỡi, cay điếc mũi, cay chảy nước mắt, cay toát mồ hôi, cay điếc tai, cay điếc óc,... [...] Có thể nói rằng người Huế bắt đầu thực đơn hằng ngày bằng một tô bún bò “cay dễ sợ”, tiếp theo là một ngày cay “túi mắt túi mũi” để kết thúc với tiếng rao “Ai ăn chè?”, một chén ngọt lịm trước khi ngủ.”
(Hoàng Phủ Ngọc Tường, *Chuyện cơm hến*, theo *Ngữ văn 7*, bộ Kết nối tri thức với cuộc sống, NXB Giáo dục Việt Nam, 2022)
Nội dung chính của đoạn trích trên là gì?
- A. Ngôn ngữ diễn tả vị cay của người Huế
- B. Vị cay trong một bát bún bò Huế
- C. Thực đơn mỗi ngày của người Huế
- D. Thói ăn cay của người Huế
“Nguyễn Du viết Kiều hơn hai trăm năm
Gió vẫn lạnh trên vai người phận bạc
Chèo Quan Âm trẻ già đều thuộc
Nỗi oan khuất ở đời nào đã chịu vơi đâu”
(Hữu Thỉnh, *Mười hai câu*, theo *thivien.net*)
Đoạn thơ gợi nhắc các tác phẩm văn học nào?
- A. “Quan Âm Thị Kính” (Chèo dân gian); “Truyện Kiều” (Nguyễn Du)
- B. “Thị Mầu lên chùa” (Chèo cổ); “Đoạn trường tân thanh” (Nguyễn Du)
- C. "Oan Thị Kính” (Chèo cổ); “Kiều” (Nguyễn Du)
- D. “Chèo Quan Âm” (Chèo cổ); Đoạn trường tân thanh” (Nguyễn Du)
“Ai mà lầm được cái gánh cốm Vòng có cái đòn gánh dị thường một đầu thẳng một đầu cong vút lên như cái ngọn chiếc hia tuồng Bình Định. Cái đòn gánh cổ truyền ấy là cả một thân tre đánh cả gốc, đầu cong chính là cái phần gốc cây mà có khi phải chọn hàng chục bụi tre mới tìm đúng được một chiếc đòn gánh cốm vừa ý. Cho nên đã có những cái đòn gánh cong truyền đi vai người này đến vai người khác có hàng mấy đời liền.”
(Nguyễn Tuân, *Cốm*, *Nguyễn Tuân toàn tập*, tập 4, NXB Văn học, 2000)
Đối tượng nào được miêu tả trong đoạn văn trên?
- A. Gánh cốm
- B. Cái đòn gánh
- C. Cốm vòng
- D. Chiếc hia tuồng Bình Định
“Bàn tay lao động
Ta gieo sự sống
Trên từng đất khô.
Bàn tay cần cù.
Mặc dù nắng cháy
Khoai trồng thắm rẫy
Lúa cấy xanh rừng.
Hết khoai ta lại gieo vừng.
Không cho đất nghỉ, không ngừng tay ta."
(Hoàng Trung Thông, *Bài ca vỡ đất*, theo *qdnd.vn*)
Vẻ đẹp được tập trung tô đậm trong đoạn thơ là gì?
- A. Vẻ đẹp trù phú của đất đai
- B. Vẻ đẹp tươi tốt của cây cối
- C. Sức sống mãnh liệt của con người trong lao động
- D. Vẻ say sưa trong lao động của con người
“Nỗi nhớ đầu anh nhớ về em
Nỗi nhớ trong tim em nhớ về với mẹ
Nỗi nhớ chẳng bao giờ nhớ thế
Bạn có nhớ trường nhớ lớp, nhớ tên tôi.”
(Hoàng Nhuận Cầm, *Chiếc lá đầu tiên*, theo *tienphong.vn*)
Chủ đề của đoạn thơ trên là gì?
- A. Tình yêu
- B. Nỗi nhớ
- C. Hoài niệm
- D. Tình mẫu tử
“Cách đây khoảng nửa thế kỉ, tôi còn được thấy các cụ ta đo thời giờ bằng hoa. Hồi ấy, thời gian quả là có mùi. Củ thủy tiên ấy gọt vào hôm nào tháng chạp, hãm nắng phơi sương, áp đèn như thế nào thì nó sẽ mãn khai đúng lúc giao thừa. Như kim giờ, kim phút báo đúng năm hết, nụ và hoa nở rộ cả bấy nhiêu rò để chào năm mới đang hé hé chờ cửa đình. Đình Bạch Mã năm nào cũng tất niên bằng cuộc thi thủy tiên, hoa của ai nở đúng giao thừa thì lĩnh thưởng mười vuông vóc hồng năm cối pháo, một thạp chè bao thiếc. Đồng hồ hoa của cụ Lang đối chướng và cụ Huyện thường là nở đúng vào cái phút không giờ của hai năm cũ mới. Có lần cha tôi dẫn tôi từ Hàng Bạc ra đình Bạch Mã Hàng Buồm xem hội thi hoa đêm cuối năm. Sau này có lúc tôi nghĩ rằng đồng hồ quả quýt mình cần lấy lại giờ, cứ đến hội hoa giao thừa, nhìn củ hoa trúng giải mà vặn lại kim đồng hồ năm mới thi không còn chếch với thời gian nữa. Và thời gian của đồng hồ thủy tiên đêm Tết xa như không ngớt thánh thót vương hương. Nhịp thời gian hôm nay đã hoàn toàn khác hẳn cái nhịp sống của những thời kì đồng hồ cát, đồng hồ nước, đồng hồ gà, đồng hồ hương, đồng hồ nến, đồng hồ hoa. Nay là đồng hồ dây cót, răng cưa, bánh xe.”
(Nguyễn Tuân, *Tờ hoa*, *Nguyễn Tuân toàn tập*, tập 4, NXB Văn học, 2000)
Đoạn văn không thể hiện rõ nét đặc điểm nào trong phong cách nghệ thuật của nhà văn Nguyễn Tuân?
- A. Có sở trường ở thể loại tuỳ bút
- B. Luôn bị hấp dẫn bởi những vẻ đẹp mãnh liệt, phi thường
- C. Ngôn ngữ linh hoạt
- D. Uyên bác
“Thế rồi xinh đẹp là em
Em ra tỉnh học em quên một người
Cái hôm nghỉ Tết vừa rồi
Em tôi áo chẽn, em tôi quần bò Gặp tôi, em hỏi hững hờ
“Anh chưa lấy vợ, còn chờ đợi ai?”
Em đi để lại chuỗi cười
Trong tôi vỡ một khoảng trời pha lê”
(Phạm Công Trứ, *Lời thề cỏ may*, theo *nhandan.vn*)
Yếu tố tự sự được thể hiện đậm nét ở phương diện nào trong đoạn thơ?
- A. “Em” ra tỉnh học và quên “tôi”.
- B. “Em” mặc áo chẽn, quần bò.
- C. “Tôi” chưa lấy vợ.
- D. Sự việc hôm nghỉ Tết “em” gặp “tôi” và hờ hững hỏi, khiến “tôi” tan vỡ.
“Tôi chẳng thể gọi rõ tên nó là cái gì. Nhưng nhờ nó mà tôi biết yêu thương con người, biết xót xa trước nỗi bất hạnh, biết cúi đầu trước vẻ đẹp. Nhờ nó mà giờ đây mỗi đêm trăng kí ức tôi lại sáng lên ánh sáng của giấc mơ, còn khi ngồi nghe mưa tôi thấy da diết âm hưởng một bản nhạc có thể làm dịu đi nỗi nhọc nhằn của công cuộc mưu sinh. Tôi hiểu rằng, không phải ai cũng có cơ hội biến trời đất thành tài sản của mình mặc dù ngày đó chúng tôi là những đứa trẻ nghèo, động một tí là nghêu ngao hát.”
(Tạ Duy Anh, *Đồng dao một thuở*, theo *vanvn.vn*)
Nội dung chính của đoạn văn trên là gì?
- A. Giá trị giáo dục của những bài đồng dao
- B. Kí ức về những bài đồng dao thuở nhỏ của nhân vật “tôi”
- C. Tác động diệu kì của những bài đồng dao đối với tâm hồn nhân vật “tôi”
- D. Vẻ đẹp của những bài đồng dao
Đọc đoạn trích dưới đây và trả lời các câu hỏi từ 36 đến 40.
“Cuộc sống ở vùng núi cao thường rất buồn tẻ. Cả năm mới có một phiên chợ, lại là phiên chợ tình, bởi vậy, có nhiều gia đình cả bố, mẹ, con dâu, con trai dắt díu nhau đến chợ vui như trảy hội. Thậm chí có nhiều cặp vợ chồng lấy nhau từ hơn chục năm nay, đã có với nhau bốn mặt con và sống cách chợ Khau Vai gần hai ngày đường cũng lặn lội đến đây tìm niềm vui...
Bóng chiều chạng vạng bắt đầu đổ xuống thung lũng Khau Vai trong thanh âm nhộn nhịp tiếng nói cười, đi lại, gọi nhau và cả tiếng lục lạc, vó ngựa của phiên chợ lúc nào cũng nhộn nhịp đông vui nhất. Đó đây trong các lều quán bắt đầu xuất hiện những cặp tình nhân ngồi sát bên nhau, vừa chụm đầu trò chuyện vừa nhắm thức ăn và... uống rượu. Rượu được rót tràn bát, như tình cảm của người vùng cao lúc nào cũng lai láng không bến bờ. Họ uống cho ngày gặp lại sau một năm xa cách, có thể đằng đẵng, đầy nhớ nhung, đến khi nào không thể uống và không nên uống nữa, họ sẽ dắt tay nhau ra ngọn núi phía xa xa kia để tự tình thâu đêm đến sáng mới trở về với vợ, chồng mình.
Những người già nhất xã Khau Vai bây giờ cũng không ai biết chợ tình Khau Vai có tự bao giờ. Chỉ biết rằng, từ lúc còn để chỏm họ đã thấy có chợ tình rồi. Truyền thuyết bắt nguồn phiên chợ là câu chuyện tình của một người con trai H'Mông và một người con gái Giáy yêu nhau. Song, tình yêu của họ đã gây ra hiềm khích giữa hai bộ tộc. Để tránh cuộc đối đầu đẫm máu, họ buộc phải xa rời nhau. Tuy nhiên, chàng trai và cô gái thề nguyền rằng, dù không lấy được nhau và phải lập gia đình với người khác thì mỗi năm họ sẽ gặp nhau một lần vào đêm 26/3 tại chợ Khau Vai bây giờ. Chợ tình Khau Vai được hình thành từ đó, mới đầu chỉ là nơi hẹn hò của những người đã lỡ dở tình duyên với nhau và là đêm chợ truyền thống của người dân tộc H'Mông nhưng sau đó được các dân tộc khác hưởng ứng. Đến bây giờ Khau Vai đã trở thành phiên chợ hẹn hò, tìm kiếm tình yêu của tất cả mọi người từ thanh niên cho đến người đã có gia đình.”
(Chợ tình Khau Vai, theo Lễ hội văn hoá và du lịch Việt Nam, NXB Lao Động, 2009)
Câu 36.Trích đoạn trên thuộc kiểu loại văn bản nào?
- A. Nghị luận
- B. Thông tin
- C. Văn học
- D. Không xác định
- A. Miêu tả
- B. Biểu cảm
- C. Thuyết minh
- D. Tự sự
- A. Đời sống tinh thần của người H'Mông
- B. Chợ tình Khau Vai
- C. Tình yêu của người H'Mông
- D. Các loại hàng hoá của phiên chợ Khau Vai
- A. Miêu tả
- B. Tự sự
- C. Biểu cảm
- D. Thuyết minh
- A. Giá trị kinh tế
- B. Giá trị văn học
- C. Giá trị văn hoá
- D. Giá trị lịch sử
Đọc đoạn trích dưới đây và trả lời các câu hỏi từ 41 đến 45.
(1) “Một trong những ẩn dụ cổ xưa nhất trong việc con người tương tác với công nghệ chính là mối quan hệ giữa chủ và nô lệ. Aristotle đã từng tưởng tượng rằng công nghệ có thể thay thế chế độ nô lệ nếu như khung dệt trở nên hoàn toàn tự động. Vào thế kỉ XIX, Oscar Wilde đã nhìn thấy tương lai khi các cỗ máy đã thực hiện tất cả các chức năng lao động ngu si và đần độn, giải phóng cho nhân loại để tự do làm nên “những điều tuyệt vời nhất” hay chỉ đơn giản là “chinh phục thế giới với lòng ngưỡng mộ và thích thú”. Marx và Engels đã nhìn ra sự khác biệt. “Đám đông đang từng ngày từng giờ bị lệ thuộc vào máy móc”, họ đã viết như thế trong tác phẩm “Communist Manifesto” (“Tuyên ngôn Cộng sản”). Máy móc không hề giúp chúng ta khỏi ách nô lệ mà ngược lại chúng đã trở thành một phương tiện nô lệ.
(2) Ngày nay, những chiếc máy tính thường đóng cả hai vai trò. Ông Nicholas Carr, tác giả quyển sách Atlantic năm 2008 với tựa đề sách “Liệu Google đang khiến chúng ta ngu muội đi?”, và cuốn sách mới nhất của ông mang tựa đề “Chiếc lồng kính”: Tự động hoá và chúng ta, phân tích nhiều lĩnh vực đương đại trong đó các phần mềm có khả năng tăng cường nhận thức của con người, từ các chẩn đoán y học cho đến các chương trình mô hình kiến trúc. Như chính tiêu đề của nó, quyển sách cũng đang hoài nghi rằng liệu công nghệ đang giam hãm hay giải phóng người sử dụng. Nicholas Carr khẳng định rằng, chúng ta đang ngày càng bị giam cầm nhưng chính vì sự vô hình của cảm giác công nghệ cao đã khiến cho chúng ta lầm tưởng mình đang tự do.
(3) Để chứng minh, ông Carr đã lấy bằng chứng về những thợ săn Inuit ở miền Bắc Canada. Các thế hệ thợ săn lớn tuổi thường theo dõi dấu vết của các con tuần lộc sinh sống trên khắp vùng lãnh nguyên với độ chính xác đáng kinh ngạc, do họ đã ghi nhận kĩ lưỡng sự thay đổi của gió, hình dạng dấu tuyết, các ngôi sao và tập tính thói quen của loài động vật. Nhưng các thợ săn trẻ tuổi bắt đầu sử dụng các loại xe trượt tuyết và thiết bị định vị GPRS, sức mạnh hoa tiêu của họ đã bị từ chối. Thay vì theo kinh nghiệm bản thân, họ đã tin chắc vào các thiết bị định vị GPRS và đã bỏ qua những nguy hiểm đang chờ đón mình, tốc độ di chuyển trên các vách đá núi hay trượt trên bề mặt băng mỏng. Và khi GPRS bị bể hay pin bị đóng băng, tất sẽ dẫn đến việc cánh thợ săn trẻ bị tổn thương.”
(Trích Google khiến cho học sinh ngày càng kém thông minh?, theo Giáo dục và thời đại, số 269, 2014)
Câu 41. Đoạn trích xoay quanh chủ đề nào?
- A. Mối quan hệ giữa chủ và nô lệ
- B. Vai trò của máy tính và mạng Internet
- C. Tác động của công nghệ hiện đại tới đời sống con người
- D. Công nghệ và ứng dụng trong công việc săn bắn
- A. Công nghệ giúp chúng ta khỏi ách nô lệ
- B. Công nghệ giải phóng sức lao động của con người
- C. Công nghệ mang đến con người khả năng sáng tạo vô song
- D. Công nghệ trở thành một phương tiện nô lệ con người
- A. Vừa giải phóng con người vừa mang đến con người cảm giác tự do
- B. Vừa giam hãm vừa giải phóng con người
- C. Vừa giam hãm vừa nô lệ con người
- D. Vừa giải phóng vừa tạo không gian sáng tạo cho con người
- A. Phân tích
- B. Bác bỏ
- C. Chứng minh
- D. So sánh
- A. Triệt để khai thác công nghệ để phục vụ đời sống
- B. Cảnh giác với những tác động tiêu cực của công nghệ
- C. Công nghệ rất hữu ích, hãy tận hưởng nó
- D. Những tác động tiêu cực của công nghệ chỉ là một phần nhỏ, công nghệ thật tuyệt vời.
Đọc đoạn trích dưới đây và trả lời các câu hỏi từ 46 đến 50.
“Thơ văn không lưu truyền hết ở đời là vì nhiều lí do:
Đối với thơ văn, cổ nhân ví như khoái chá, ví như gấm vóc; khoái chá là vị rất ngon trên đời, gấm vóc là màu rất đẹp trên đời, phàm người có miệng, có mắt, ai cũng quý trọng mà không vứt bỏ khinh thường. Đến như văn thơ, thì lại là sắc đẹp ngoài cả sắc đẹp, vị ngon ngoài cả vị ngon, không thể đem mắt tầm thường mà xem, miệng tầm thường mà nếm được. Chỉ thi nhân là có thể xem mà biết được sắc đẹp, ăn mà biết được vị ngon ấy thôi. Đấy là lí do thứ nhất làm cho thơ văn không lưu truyền hết ở trên đời.
Nước ta từ nhà Lí, nhà Trần dựng nước đến nay, vẫn có tiếng là nước văn hiến, những bậc thi nhân, tài tử đều đem sở trường của mình thổ lộ ra lời nói, lẽ nào không có người hay? Nhưng bậc danh nho làm quan to ở trong quán, các, hoặc vì bận việc không rỗi thì giờ để biên tập, còn viên quan nhàn tản chức thấp cùng những người phải lận đận về khoa trường, thì đều không để ý đến. Đấy là lí do thứ hai làm cho thơ văn không lưu truyền hết ở trên đời.
Thỉnh thoảng, cũng có người thích thơ văn, nhưng lại ngại vì công việc nặng nề, tài lực kém cỏi, nên đều làm được nửa chừng rồi lại bỏ dở. Đấy là lí do thứ ba làm cho thơ văn không lưu truyền hết ở trên đời.
Sách vở về đời Lí - Trần phần nhiều chỉ thấy công việc nhà chùa là được lưu hành, như thế đâu phải vì lòng tôn sùng Nho học không sâu sắc bằng tôn sùng Phật học, mà chỉ vì nhà chùa không ngăn cấm, cho nên sách được khắc vào ván để truyền mãi lại đời sau, còn như thơ văn, nếu chưa được lệnh vua, không dám khắc ván lưu hành. Đấy là lí do thứ tư làm cho thơ văn không lưu truyền hết ở trên đời.”
(Hoàng Đức Lương, Tựa “Trích diễm thi tập”, theo Ngữ văn 10, tập 2, NXB Giáo dục Việt Nam, 2011)
Câu 46. Chủ đề của đoạn trích là gì?
- A. Vẻ đẹp của văn chương
- B. Sức mạnh của văn chương
- C. Nguyên do khiến văn chương không lưu truyền hết ở đời
- D. Sức sống vượt thời gian của văn chương
- A. Phân tích
- B. Bác bỏ
- C. Bình luận
- D. Giải thích
- A. Hai
- B. Ba
- C. Bốn
- D. Năm
- A. châu báu
- B. vàng lụa
- C. nhan sắc mĩ nhân
- D. khoái chá, gấm vóc
- A. Binh sĩ
- B. Thi nhân
- C. Quan lại
- D. Trí thức
