“Muốn ăn cơm phải tìm giống gieo mạ Muốn ăn cá phải tát suối tát ao Muốn biết vì sao có đất đỏ đất nâu Phải bảo nhau ngồi nghe chuyện kể Ngày xưa ngày ấy Trông trời, trời bao la rộng rãi Trông đất, đất vắng vẻ trống không Đồn rằng Có một năm mưa dầm mưa dãi Nước vượt khỏi đồi U Nước dâng tràn đồi Bái Năm mươi ngày nước rút Bảy mươi ngày nước xuôi” (Sử thi dân tộc Mường, Đẻ đất đẻ nước)
Nội dung của văn bản trên là gì?
- A. Quá trình lao động để kiếm sống và khám phá thiên nhiên.
- B. Miêu tả cảnh mưa lũ và sức mạnh của thiên nhiên.
- C. Truyền thống văn hóa của người Mường qua sử thi.
- D. Sự thay đổi của đất trời theo thời gian.
“Khi cách mạng đã lên rồi, Cắm trở về làng. Ồ, cái thằng bé gọi Cắm bằng chú. Coi kìa! Nó đã trở thành một thằng con trai lớn tồng ngồng. Cái lưng nó đã rộng bè bè và hơi cong lại như lưng một con thú rừng sắp vồ mồi. Tóc nó đen và dài. Và cặp mắt nó thì đích thị là cặp mắt của một người Mèo thực sự, xếch lên một chút, sáng như hai đốm lửa trong rừng khuya và sâu đến nao lòng những cô gái nào vô tình nhìn vào đấy. Mới đầu, nó không nhận ra Cắm. Cái thằng bé!”
(Nguyên Ngọc, Rẻo cao)
Chi tiết “Cặp mắt nó sáng như hai đốm lửa trong rừng khuya và sâu đến nao lòng những cô gái nào vô tình nhìn vào đấy” có nghĩa là gì?
- A. Đôi mắt của người Mèo mang vẻ đẹp tự nhiên và sức hút đặc biệt.
- B. Đôi mắt thể hiện sự trưởng thành, mạnh mẽ của một chàng trai người Mèo.
- C. Đôi mắt sáng và sâu là biểu tượng của sự thông minh và khôn ngoan.
- D. Đôi mắt toát lên sự quyết đoán và sức mạnh của một thợ săn nơi núi rừng.
Đọc đoạn sau và trả lời câu hỏi:
“Trèo lên cây khế nửa ngày,
Ai làm chua xót lòng này, khế ơi!
Mặt trăng sánh với mặt trời.
Sao Hôm sánh với sao Mai chằng chằng.
Mình đi có nhớ ta chăng?
Ta như sao Vượt chờ Trăng giữa trời.”
Hình ảnh “sao Mai”, “sao Hôm” trong câu ca dao “Sao Hôm sánh với sao Mai chằng chằng” gợi lên đặc điểm gì về tình cảm của lứa đôi?
- A. Sự vĩnh hằng.
- B. Sự sâu lắng.
- C. Sự nồng nàn.
- D. Sự tha thiết.
Đọc đoạn văn sau và trả lời câu hỏi:
"Trong một thế giới luôn vận động không ngừng, những khoảng lặng hiếm hoi có giá trị vô cùng lớn. Đó là những lúc mà ta có thể thoát khỏi mọi căng thẳng, lắng nghe tiếng nói từ sâu thẳm tâm hồn mình, và cảm nhận sự bình yên thực sự."
Câu nói “Những giờ phút tĩnh lặng giữa cuộc sống bận rộn chính là lúc ta nhìn lại chính mình” thể hiện điều gì?
- A. Sự thờ ơ trước những áp lực của cuộc sống hiện đại.
- B. Tinh thần thanh thản và tự tại giữa nhịp sống hối hả.
- C. Sự tiếc nuối về thời gian đã qua.
- D. Sự lo âu và bất an trong cuộc sống.
“Trình Trung Ngộ là một chàng trai đẹp ở đất Bắc Hà, nhà rất giàu, thuê thuyền xuống vùng nam buôn bán. Chàng thường đỗ thuyền ở dưới cầu Liễu Khê rồi đi lại vào chợ Nam Xang (1). Dọc đường, hay gặp một người con gái xinh đẹp, từ Đông thôn đi ra, đằng sau có một ả thị nữ theo hầu. Chàng liếc mắt trông, thấy là một giai nhân tuyệt sắc. Song đất lạ quê người, biết đâu dò hỏi, chỉ mang một mối tình u uất trong lòng. Một hôm khác, chàng cũng gặp lại, muốn kiếm một lời nói kín đáo để thử khêu gợi, nhưng người con gái đã xốc xiêm rảo bước, và bảo với con hầu gái:
- Ta lâu nay rượu xuân quá chén, mê mệt nằm dài, hầu nửa năm trời, không lên chơi cầu Liễu Khê lần nào cả, chẳng biết giờ phong cảnh ra sao. Đêm nay nên thăm qua cảnh cũ, để được khuây giải chút tình u uất ở trong lòng, vậy em có đi theo ta không?
Con hầu vâng lời.” (Nguyễn Dữ, Chuyện cây gạo)
Dòng nào sau đây không thể hiện đặc trưng hình thức nghệ thuật của văn bản trên?
- A. Sử dụng yếu tố đối thoại để khắc họa nhân vật.
- B. Sử dụng hình ảnh gợi tả giàu tính biểu cảm.
- C. Sử dụng điển tích, điển cố quen thuộc trong văn học cổ.
- D. Xây dựng không gian mang tính ước lệ tượng trưng.
“Chúng tôi đi, bì bõm trong bùn, rồi rẽ phải vào rừng. Tiếng sấm rền vang trên các vòm cây. Mưa rơi trầm trầm, buồn buồn. Gió tụt lại phía sau. Tôi cúi mặt tránh các cành lá, và đưa tay bám chắc vào cái gùi to lù lù như chiếc thùng phuy trên lưng người đi trước. Rừng thưa dần, rồi tới một bờ suối. Chúng tôi đi qua một cây cầu tre tròng trành, đung đưa, nhưng có tay vịn.” (Bảo Ninh, Trại “bảy chú lùn”)
Người kể chuyện trong văn bản trên sử dụng điểm nhìn trần thuật nào?
- A. Điểm nhìn của ngôi thứ nhất.
- B. Điểm nhìn của ngôi thứ ba toàn trị.
- C. Điểm nhìn của ngôi thứ ba hạn tri.
- D. Điểm nhìn của ngôi thứ hai.
“Khách quan mà nói, thái độ kiêu kỳ của Việt An trông thật dễ ghét! Còn 'chủ quan mà nói', con gái trông càng dễ ghét bao nhiêu lại càng có vẻ... dễ thương bấy nhiêu! Thế mới khổ cho tôi! Khổ nhất là ngay từ lần đầu tiên trông thấy Việt An, tôi bỗng hiểu rằng từ nay trở đi tôi không còn 'tự do' nữa. Lúc nào tôi cũng nghĩ đến nó, không chỉ ánh mắt, nụ cười, mái tóc mà ngay cả cái tên Việt An đối với tôi cũng trở nên gần gũi, thân thiết lạ lùng như thể tôi đã yêu cái tên ấy đâu từ... kiếp trước! Có những lúc ngồi một mình, nghĩ đến Việt An tôi bất giác gọi thầm tên nó và cái âm vang ngọt ngào ấy bao giờ cũng gợi nơi tôi một cảm giác nhớ nhung trìu mến lẫn một nỗi hân hoan khó tả.”
(Nguyễn Nhật Ánh, Cô gái đến từ hôm qua)
Chủ thể trữ tình trong đoạn văn trên là:
- A. Cảm giác nhớ nhung trìu mến.
- B. Thái độ kiêu kỳ của Việt An.
- C. Cái tên Việt An.
- D. Tôi.
Chân cứng đá mềm, Ngàn cân treo sợi tóc, Long trời lở đất sử dụng biện pháp tu từ nào?
- A. Biện pháp so sánh.
- B. Biện pháp nhân hóa.
- C. Biện pháp nói quá.
- D. Biện pháp đảo ngữ.
“Lúc bấy giờ, tôi vụt có một cảm giác rất lạ: cái bóng anh xe, người đầy cát bụi kia, nhìn từ phía sau, bỗng to dần ra. Anh càng bước tới, cái bóng càng to thêm, phải ngước lên mới nhìn thấy được, và dần dần cơ hồ biến thành một sức nặng đè lên người tôi đến nỗi làm cho cái 'thằng tôi nhỏ nhen', che giấu dưới lần áo da, như muốn lòi ra ngoài.”
(Lỗ Tấn, Mẩu chuyện nhỏ)
Cảm giác mà nhân vật "tôi" trải qua trong đoạn văn là gì?
- A. Cảm giác sợ hãi trước cái bóng của anh xe.
- B. Cảm giác ngạc nhiên khi cái bóng trở nên to dần.
- C. Cảm giác nặng nề và sự thay đổi trong tâm lý của nhân vật.
- D. Cảm giác hối hận về những hành động trong quá khứ.
“Máy bay qua biên giới Ghé tạm xuống Nam Ninh “Cách mạng văn hoá” mới Nhí nhố hồng vệ binh.
Ảnh to và ảnh nhỏ Nghìn triệu còn một Ông Mấy chú giơ sách đỏ Muôn năm Mao Trạch Đông!
Bữa cơm trưa Vũ Hán Vô chủ, chuyện cùng ai? Đất này đâu hết bạn Xin hẹn một ngày mai…” (Tố Hữu, Qua biên giới)
Nội dung đoạn thơ trên nói về điều gì?
- A. Mô tả về cuộc sống bình dị của người dân Trung Quốc.
- B. Phê phán và phản ánh những hệ lụy của “Cách mạng văn hoá” ở Trung Quốc.
- C. Ca ngợi sự phát triển của đất nước Trung Quốc qua từng giai đoạn.
- D. Tôn vinh các nhân vật lịch sử nổi bật của Trung Quốc.
- A. Câu thiếu chủ ngữ.
- B. Câu thiếu vị ngữ.
- C. Câu dùng sai quan hệ từ.
- D. Câu có từ dùng sai phong cách.
- A. Thán từ.
- B. Phó từ.
- C. Trợ từ.
- D. Tình thái từ.
- A. Quê quán.
- B. Quê kệch.
- C. Quê hương.
- D. Quê nhà.
- A. Tiền vệ, tiền bạc, tiền đề.
- B. Tiền mặt, tiền vệ, tiền đồ.
- C. Tiền đề, tiền vệ, tiền tuyến.
- D. Tiền mặt, tiền bối, tiền đồ.
Từ nào bị dùng sai trong câu trên?
- A. bình tĩnh.
- B. lý trí.
- C. thái độ.
- D. hiệu quả.
- A. Thạch Lam ghi dấu ấn trong văn học Việt Nam với những truyện ngắn không có cốt truyện, ngôn ngữ trong sáng và nhẹ nhàng.
- B. Nguyễn Tuân nổi tiếng với những tác phẩm tạo dựng chân dung con người xuất chúng, hoài niệm về một thời đã xa.
- C. Tô Hoài gần gũi với độc giả qua những câu chuyện làng quê bằng giọng kể gí dỏm, những chi tiết sống động.
- D. Vũ Trọng Phụng bước vào văn đàn với giọng văn trào phúng, tiếng cười chua chát về một xã hội đầy những điều oái oăm.
- A. Ngày qua ngày, cứ rảo bước trên những con đường quen, rồi bỗng chợt nhận ra, mùa thu đã đến tự lúc nào.
- B. Hương cà phê lan tỏa khắp quán nên những thực khách không chỉ được uống mà còn được thưởng thức bằng cả khứu giác.
- C. Ánh đèn từ các biển hiệu quảng cáo tỏa ra sáng rực, lấp lánh nhưng không thể khiến thành phố trở nên đẹp hơn.
- D. Mỗi năm, con đường lại được trải nhựa lại một lần để sửa những chỗ đã sụt lún vì quá tải trọng gây nên.
- A. Câu thiếu chủ ngữ.
- B. Câu thiếu vị ngữ.
- C. Câu dùng sai quan hệ từ.
- D. Câu có từ dùng sai phong cách.
- A. Câu nói này ngầm chỉ ai?
- B. Các giáo viên.
- C. Các phụ huynh.
- D. Các sinh viên tốt nghiệp.
- E. Các nhà lãnh đạo.
- A. Xuân Diệu.
- B. Hàn Mạc Tử.
- C. Tố Hữu.
- D. Nguyễn Bính.
Đọc đoạn văn sau và trả lời các câu hỏi từ 21 đến 25
Cách thời điểm này đúng một năm, Quỹ Phát triển KH&CN Quốc gia (NAFOSTED) tổ chức lễ kỷ niệm 20 năm thành lập với niềm vui của một tổ chức đã làm thay đổi diện mạo của nền khoa học Việt Nam xen lẫn nỗi ngơ ngác chứng kiến sự chuyển đổi cơ chế quản lý tài chính. Sự đan xen của hai sắc thái này càng được tô đậm khi nguyên Bộ trưởng Bộ KH&CN Hoàng Văn Phong, trong lễ kỷ niệm vào tháng 12/2023, đã nhận xét “Mọi người ai cũng nói, hoạt động của NAFOSTED cũng giống hoạt động của các tổ chức quốc tế nhưng thật ra mà nói, trong bối cảnh Việt Nam, quỹ vừa hoạt động như tổ chức tài chính nhà nước, vừa là đơn vị sự nghiệp”.
Chính hai cái áo cùng khoác lên NAFOSTED đã tạo ra sự linh hoạt trong các hoạt động tài trợ, hỗ trợ của quỹ trong suốt thời gian tồn tại. “Là đơn vị tài chính của ngành khoa học, NAFOSTED được giao quản lý, điều hành một khoản vốn điều lệ và khoản tiền này được mặc nhiên định vào trong kế hoạch. Do đó, Quỹ không phải dự toán để xây dựng kế hoạch mà là triển khai kế hoạch theo kinh phí đã được bố trí”, nguyên Bộ trưởng Hoàng Văn Phong nói. Nằm dưới sự quản lý của Bộ KH&CN và không chạy theo các hoạt động tài trợ để thu lợi nhuận như các quỹ tài chính thông thường, NAFOSTED đương nhiên là một đơn vị sự nghiệp – lợi nhuận của NAFOSTED, nếu coi là như vậy, là những “khoản lãi” sẽ đến trong tương lai thông qua việc gia tăng tiềm lực KH&CN và nguồn nhân lực chất lượng cao cho đất nước.
Suốt hai thập niên, NAFOSTED vẫn là một mô hình tài trợ cho khoa học duy nhất ở khu vực công theo cơ chế quỹ, một cơ chế mà theo TS. Nguyễn Quân, nguyên Bộ trưởng Bộ KH&CN “nói nôm na là tiền chờ đề tài chứ không phải đề tài chờ tiền”. Tuy nhiên, vị thế này giờ đã được “hóa giải” bằng Luật Ngân sách 2015, đưa NAFOSTED trở lại quỹ trong ngân sách với quỹ đạo tài chính truyền thống giống các chương trình KH&CN khác.
Đó là lý do mà bên lề lễ kỷ niệm, một nhà vật lý từng giành giải thưởng Tạ Quang Bửu nhận xét “Tính thông thoáng và linh hoạt vốn có của cơ chế quỹ có thể sẽ không còn” trong khi một nhà quản lý kỳ cựu dự báo, “NAFOSTED sẽ rất khó khăn nếu không bảo vệ được cơ chế quỹ”.
Những dự báo này, theo thời gian, đã trở thành thực tế không thể chối bỏ. Vậy cách nào để tháo gỡ, nếu không muốn mai một đi một mô hình đã đem lại sức sống mới cho khoa học Việt Nam?
(Thêo Thanh Nhàn, NAFOSTED: Bao giờ trở lại ngày xưa?)
Câu 21: Quỹ Phát triển KH&CN Quốc gia (NAFOSTED) được tổ chức lễ kỷ niệm 20 năm thành lập vào thời điểm nào?
- A. Tháng 12/2022.
- B. Tháng 12/2023.
- C. Tháng 11/2023.
- D. Tháng 10/2023.
- A. Hoạt động như một tổ chức tài chính nhà nước và đơn vị sự nghiệp.
- B. Hoạt động như một tổ chức tài chính quốc tế.
- C. Chỉ hoạt động như một đơn vị sự nghiệp.
- D. Chỉ hoạt động như một tổ chức tài chính nhà nước.
- A. Vì NAFOSTED đã được cấp một khoản tiền cố định.
- B. Vì NAFOSTED được giao quản lý một khoản vốn điều lệ và không phải xây dựng kế hoạch.
- C. Vì NAFOSTED chỉ cần triển khai kế hoạch tài trợ theo yêu cầu của Bộ KH&CN.
- D. Vì NAFOSTED hoạt động theo mô hình tài chính quốc tế.
- A. Vì cơ chế quỹ đã giúp NAFOSTED phát triển mạnh mẽ trong suốt hai thập kỷ qua.
- B. Vì cơ chế mới sẽ làm giảm tính linh hoạt và thông thoáng của NAFOSTED.
- C. Vì cơ chế mới làm cho NAFOSTED không còn khả năng tài trợ cho các đề tài khoa học.
- D. Vì cơ chế quỹ không còn phù hợp với ngân sách quốc gia.
- A. Quỹ tài chính nhà nước.
- B. Quỹ tài trợ khoa học quốc tế.
- C. Cơ chế tài chính truyền thống giống các chương trình KH&CN khác.
- D. Cơ chế tài trợ tư nhân.
Đọc đoạn văn sau và trả lời các câu hỏi từ 26 đến 30
“Xuân đã đem mong nhớ trở về
Lòng cô gái ở bến sông kia.
Cô hồi tưởng lại ba xuân trước,
Trên bến cùng ai đã nặng thề.
Nhưng rồi người khách tình xuân ấy,
Đi biệt không về với... bến sông.
Đã mấy lần xuân trôi chảy mãi,
Mấy lần cô gái mỏi mòn trông.”
(Nguyễn Bính, Cô lái đò)
Câu 26: Đoạn trích trên được viết theo thể loại nào?
- A. Thơ 7 chữ.
- B. Thơ 8 chữ.
- C. Thơ lục bát.
- D. Thơ tự do.
- A. Chuyện tình lãng mạn của cô lái đò với người khách xưa.
- B. Dòng hồi tưởng của cô lái đò về chuyện tình đã qua.
- C. Số phận lênh đênh, khổ cực của cô lái đò trên bến sông.
- D. Tâm trạng bi phẫn của cô lái đò cho chính cuộc đời mình.
- A. đang đợi chờ người yêu của mình đi lính trở về.
- B. cần mẫn thực hiện công việc lái đò trên sông.
- C. thương nhớ về người đàn ông đã rời bến sông.
- A. Lời hứa về tình cảm, sự thủy chung giữa những người yêu nhau.
- B. Người chồng cam kết sẽ trở về với vợ khi “công thành danh toại”.
- C. Sự “đồng cam cộng khổ” của những người có chung niềm tin, lý tưởng sống.
- D. Quyết tâm thực hiện lời hứa của mình dù biết trước những khó khăn, vất vả.
- A. Mùa khởi đầu của một năm mới, là tiết trời, khoảnh khắc mà con người chờ đợi.
- B. Thời gian của tuổi trẻ, của đời người đã trôi đi không lấy lại được.
- C. Hình ảnh đại diện cho sức sống căng tràn trong mỗi con người.
- D. Ước muốn về sự nồng nàn, hạnh phúc trong tình yêu đôi lứa.
